Tìm hiểu về cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn

Nếu bạn còn chưa hiểu về cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn thì đừng bỏ qua bài viết dưới đây. Hãy cùng gani.vn tìm hiểu cụ thể về vấn đề này nhé.

Đề kháng kháng sinh của vi khuẩn là gì?

Một vi khuẩn sẽ được gọi là đề kháng khi nồng độ ức chế tối thiểu của vi khuẩn đó được xác định cao hơn nồng độ ức chế đa số các chủng vi khuẩn khác của cùng loài đó.

Đề kháng kháng sinh của vi khuẩn là gì?
Đề kháng kháng sinh của vi khuẩn là gì?

Các mức độ của nồng độ ức chế tối thiểu được xác định cho tính nhạy cảm, tính trung gian và tính đề kháng đối với mỗi loài vi khuẩn được một phòng thí nghiệm độc lập xác định và được viện nghiên cứu các Tiêu chuẩn Phòng thí nghiệm và Lâm sàng đều cập nhật đều đặn.

Thực tế, một chủng được gọi là đề kháng khi nồng độ kháng sinh mà vi khuẩn có thể chịu đựng được tăng cao hơn nồng độ kháng sinh đạt được trong cơ thể sau khi dùng thuốc.

Hiểu đúng bản chất thì tính đề kháng kháng sinh của vi khuẩn có nguồn cốc ở gene. Các loại gen kháng thuốc hiện diện bên trong các nhiễm sắc thể hoặc trong một yếu tố di động như các placide, các yếu tố có thể chuyển vị trí hoặc integron.

Phân loại đề kháng kháng sinh của vi khuẩn

Phân loại đề kháng kháng sinh của vi khuẩn
Phân loại đề kháng kháng sinh của vi khuẩn

Trước khi tìm hiểu về cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn bạn không thể bỏ qua các loại đề kháng kháng sinh của vi khuẩn để có thể hiểu chi tiết hơn. Cụ thể có 2 loại đề kháng kháng sinh của vi khuẩn đó là:

Đề kháng giả

Đề kháng giả chính là có biểu hiện là đề kháng nhưng về bản chất lại không phải có nghĩa là không do nguồn gốc di truyền. Khi vào trong cơ thể, tác dụng của kháng sinh phụ thuộc chủ yếu vào ba yếu tố là kháng sinh – người bệnh – vi khuẩn.

Đề kháng giả có thể do một trong ba yếu tố hoặc có thể kết hợp hai hay thậm chí cả ba yếu tố tạo ra. Vì vậy, khi điều trị bằng kháng sinh không thành công, cần phải xem xét nguyên nhân thất bại là do 3 yếu tố này.

Đề kháng thật

Đề kháng thật còn được chia ra thành 2 loại là : Đề kháng tự nhiên và đề kháng thu được

  • Đề kháng tự nhiên: Đây là đề do một số loài vi khuẩn không chịu tác dụng của một số kháng sinh nhất định. Đề kháng tự nhiên là đặc điểm được xác định là có ở tất cả các chủng loại của cùng một loài và còn có thể được biết ngay từ lúc đầu khi nghiên cứu xác định được hoạt tính của kháng sinh và xác định phổ tác dụng của kháng sing.
  • Đề kháng thu được là loại đề kháng do một biến cố di truyền là đột biến hoặc nhận được gen đề kháng để một vi khuẩn đang từ không có gen đề kháng đã trở thành có gen đề kháng, nghĩa là đang nhạy cảm đã có thể trở thành khả năng có đề kháng kháng sinh.[1]

 Cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn

Trải qua rất nhiều nghiên cứu trong nước và các nước trên thế giới để xác định được cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn. Cơ chế đó cụ thể là:

 Cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn
Cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn
  • Làm giảm tính thấm của các vách hay còn gọi là màng ngoài và màng bào tương nên kháng sinh không thể thấm được vào tế bào vi khuẩn, ví dụ đề kháng từ các kháng sinh tetracyclin, oxacilin hoặc làm mất khả năng vận chuyển qua màng như đề kháng của streptomycin hoặc tăng hoạt động của hệ thống bơm giúp đẩy kháng sinh ra khỏi tế bào.
  • Làm thay đổi được đích tác động nên kháng sinh không gắn được vào đích để có thể phát huy được tác dụng, ví dụ như loại đề kháng streptomycin, erythromycin do thay đổi ở ribosom; thay đổi đích gắn penicillin – penicillin binding protein và dẫn đến đề kháng beta-lactam.
  • Cơ chế này diễn ra khi thay đổi con đường trao đổi chất do tạo ra isoenzym, không có ái lực với kháng sinh nữa, ví dụ có thể kể đến đó là đề kháng sulfamid, trimethoprim.
  • Cơ chế cuối cùng là tạo ra enzym để biến đổi cấu trúc phân tử kháng sinh (như các O- phosphotransferase, N-acetyltransferase biến đổi các phân tử aminoglycosid hoặc chloramphenicol acetyltransferase) hoặc enzym có khả năng phá hủy cấu trúc phân tử kháng sinh như các beta-lactamase.

Bạn cần phải biết. một vi khuẩn đề kháng kháng sinh không phải do chỉ một mà thường là do phối hợp các cơ chế riêng rẽ kể trên mới có thể thành công. Ví dụ thực tế chỉ ra là: trực khuẩn Gram-âm đề kháng beta-lactam là do sản sinh ra beta-lactamase (gồm cả beta-lactamase phổ rộng – ESBL), thay đổi đích tác động – PBPs, mất porin (tính thấm) cùng với hệ thống bơm đẩy kháng sinh ra ngoài.

Ngoài ra, bạn cũng có thể hiểu cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn một cách đơn giản đó là: Ức chế bằng Enzyme, giảm tính thấm của tế bào vi khuẩn, biến đổi vị trí gắn kết, bơm đẩy.

Như vậy, gani.vn đã gửi đến bạn cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn một cách chi tiết và cụ thể nhất. Việc có hiểu biết về cơ chế tác dụng và cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh, bạn sẽ có thể chọn được hoặc phối hợp được các loại kháng sinh thích hợp cho từng người bệnh, tránh quan điểm hoàn toàn sai lầm dẫn đến tình trạng bệnh thêm trầm trọng vì không đúng chủ đích. Hy vọng trên đây là những kiến thức bổ ích dành cho bạn.